17/09/2014

Trường Hữu nghị T78 – Quá trình thành lập, xây dựng và phát triển (phần I)

            Trường Hữu nghị T78, tiền thân là trường Bổ túc văn hoá Miền núi Trung ương (T78)  đã trải qua chặng đường 55 năm xây dựng  và phát triển . Trải qua từng thời kì lịch sử trường đã mang những tên gọi khác nhau. Khi mới thành lập trường mang tên T399, sau đổi thành: Khu học xá Miền núi Trung ương (1959-1961);  Trường Bổ túc Văn hoá Miền núi Trung ương -T78 (1962-1984) (bắt đầu từ 1967 mang biệt danh T78); Trường Bổ túc Văn hóa Hữu nghị-T78 (1980 – nay) (bắt đầu từ tháng 5/2010 mang tên trường Hữu nghị T78).  Ngược dòng thời gian tôi xin điểm lại một vài nét tóm tắt  quá trình thành lập, xây dựng và phát triển của  nhà trường.

          Vào những năm cuối của thập kỉ 50  ; trước những yêu cầu cấp bách trong công tác đào tạo cán bộ cho cách mạng Lào, thực hiện sự chỉ đạo của Chủ tịch  Hồ  Chí Minh, ngày 1-1-1958 trường T399 thuộc Tổng cục chính trị QĐND Việt Nam  do Quân khu Việt Bắc trực tiếp quản lí đã chính thức ra đời tại  xã Cao Ngạn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên để đảm đương nhiệm vụ  đặc biệt đó.  Ngay khoá học đầu tiên đã có 129 học viên là  những cán bộ, chiến sĩ  ưu tú là bộ đội giải phóng Pha thét Lào  được chọn cử đến  để học tập .

          Năm 1959, trường được đổi tên thành “Khu học xá Miền núi Trung ương” bao gồm 2 phân hiệu : Phân hiệu II ở lại huyện Đồng Hỷ còn Phân hiệu I về cây số 5 đường Thái Nguyên  đi Bắc Cạn và Ký túc xá 49 thuộc CP 31 sau  là CP 38 – đây là hai cơ quan  của Đảng và Chính phủ Việt Nam đặc trách làm công tác giúp Lào . Khi đó trường đã có đến 493 LHS Lào theo học .

Thầy Nguyễn Cận đọc diễn văn khai giảng năm học 1960-1961

          Năm 1962 Khu học xá được chuyển về địa điểm mới tại Xã Kim Tràng và  Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang với tên gọi “Trường BTVH miền núi Trung ương”. Đây là một cơ sở mới được xây dựng. Số lượng LHS Lào tăng nhanh, lúc này đã lên tới 1.200 người . Từ đây CP 38  chính thức giao cho Bộ Giáo dục trực tiếp quản lí trường để thuận cho việc chỉ đạo chuyên môn, tạo điều kiện  nâng cao chất lượng đào tạo.

          Trong những năm tháng đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc , thầy, trò cùng cán bộ, CNV của trường  bước vào cuộc sơ tán địa điểm vô cùng khó khăn, gian khổ  kéo dài hàng chục năm trời: Năm 1965 trường sơ tán về xã Vinh Quang cho đến năm 1966 lại sơ tán tiếp về xã Phúc Hoà, huyện Tân Yên. Năm 1967, khi cuộc chiến tranh bằng không quân Mỹ ra miền Bắc càng ngày càng khốc liệt và lan rộng,  để đảm bảo an toàn cho cán bộ, giáo viên và LHS Lào, giữ gìn tài sản và đảm bảo công tác đào tạo không bị gián đoạn, Bộ Giáo dục đã quyết định chuyển trường về  huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú. Cuộc hành quân di chuyển trên 200 km phải vượt qua nhiều trọng điểm đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ ròng rã  gần 2 tháng trời mới hoàn thành . Toàn thể thầy, trò, cán bộ, NV phục vụ của trường đã được chuyển  về địa điểm mới an toàn và luôn nhận được sự chở che, giúp đỡ của nhân dân  2 xã Minh Đài, Văn Luông thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnhVĩnh Phú. Để đảm bảo bí mật cho trường, cũng từ năm 1967 trường mang bí danh: T78. Tại đây, ngoài hai hệ đào tạo có từ trước là phổ thông và bổ túc cấp I, II, III trường có thêm nhiệm vụ mở thêm lớp đào tạo phiên dịch tiếng Lào-Việt; Đồng thời mở lớp đào tạo giáo viên cấp tốc phục vụ cho vùng giải phóng của Lào đang mở rộng. Đến năm 1968 trường có thêm Phân hiệu II (cách cơ sở chính 50 km) đặt tại xã Thượng Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú. Phân hiệu II có nhiệm vụ đào tạo con em phái Trung lập Xiêng Khoảng của Đại tá Đươn và phái Trung lập Phong Sa Lỳ của tướng Kham uon Bupha.

          Năm 1970, để giảm bớt những khó khăn về giao thông đi lại nơi trường đóng quân do lũ bão hàng năm thường gây ra,  Bộ quyết định cho phép trường chuyển ra xã Phương Thịnh, huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú với nhiệm vụ vừa tổ chức giảng dạy, học tập và sẵn sàng sơ tán nếu tình hình chiến tranh lại tiếp diễn. Năm 1972, đế quốc Mỹ quay lại oanh tạc dữ dội Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi trên miền Bắc, trường  phải sơ tán tiếp vào xã Quang Húc và Hùng Đô, huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú và cắm chốt tại đó đến ngày hoà bình thống nhất Bắc Nam.

          Năm 1975 sau đại thắng mùa xuân , cả dân tộc hân hoan trong niềm vui đất nước thống nhất, trường được Bộ Giáo dục quyết định chuyển về tiếp quản trường học sinh miền Nam ở xã Phú Sơn, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình . Toàn trường lại  cùng nhau lên đường  thực hiện cuộc di chuyển về điạ điểm mới cách xa nơi ở cũ trên 200 km về phía nam . Đối tượng LHS  lúc này chủ yếu là cán bộ, bộ đội sang học tiếng Việt và bổ túc thêm trình độ văn hoá hết cấp hai, ba để sau đó đi học tiếp ở các trường Đảng  tại Việt Nam.

          Năm 1978, để tiện cho việc chỉ đạo chung Bộ Giáo dục cho phép trường chuyển đến tiếp quản trường học sinh Dân tộc miền Nam số 11 tại xã Văn Sơn huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Sơn Bình cách địa điểm cũ trên 100 km và ở lại đó cho đến đầu những năm 80. Đối tượng LHS Lào lúc đó rất đa dạng: BTVH cấp 2-3, phổ thông cấp 1, 2, 3 (có một số môn học do giáo viên Lào giảng dạy), lại có cả một số học tiếng Việt và Dự bị để  sau đó vào học tiếp các trường đại học và trung cấp chuyên nghiệp tại Việt Nam. Một số đ/c lãnh đạo và giáo viên của trường  là  người Lào.

Đoàn cán bộ Lào về thăm trường thời kỳ ở Phúc Thọ, Hà Tây (nay là Hà Nội)

       Năm 1980, căn cứ vào tình hình thực tế, để phù hợp với quy hoạch hệ thống các trường C-K của Bộ Giáo dục, trường chính thức có tên gọi  “ Bổ túc Văn hoá Hữu nghị ” và một lần nữa lại được chuyển về tiếp quản, xây dựng cơ  sở mới tại  địa điểm  này thuộc  xã Thọ Lộc, huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ) cho tới ngày nay.

       Từ những năm 1993 đến nay ngoài nhiệm vụ truyền thống là đào tạo LHS Lào, trường còn được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ quản lí, tổ chức ăn ở nội trú và giảng dạy chương trình trung học phổ thông cho học sinh Dân tộc thiểu số, góp phần tạo nguồn cán bộ cho các tỉnh miền núi phía Bắc. Đây là một mô hình  mới đối với trường nhưng lại có ý nghĩa chính trị và thực tiễn rất lớn. Taị đây học sinh các dân tộc Việt Nam cùng sinh hoạt, học tập nội trú, cùng tham gia các hoạt động tập thể với LHS Lào, tạo môi trường  học tiếng Việt và giúp nhau học văn hoá rất thuận lợi đồng thời cùng nhau xây dựng  tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt – Lào một cách cụ thể và sinh động. Từ đây dưới mái trường Hữu nghị này hàng năm nhà trường lần lượt đón nhận lưu lượng hơn 700 học sinh DTNT Việt Nam cùng với  trên 300 LHS Lào đến học tập và rèn luyện. Đối tượng LHS Lào giờ đây cũng đã thay đổi: ngoài số cán bộ chính trị được Ban Tổ chức Trung ương Đảng NDCM Lào tuyển chọn cử sang học dự bị tiếng Việt để sau đó vào học tại Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia, số còn lại sau khi học tiếng Việt và dự bị tại trường sẽ đi học tiếp đại học, cao học và NCS ở tất cả các ngành chính trị,  kinh tế, KHKT, văn hoá nghệ thuật, y tế, giáo dục… tại Việt Nam.

Đc Trương Tấn Sang UVBCT cùng ĐS CHDCND Lào Tại VN Bunthoon XENGKHAMMY và Thứ trưởng Trần Văn Nhung đến thăm trường

           55 năm kể từ khi thành lập đến nay, qua từng giai đoạn lịch sử với  nhiều lần thuyên chuyển đến các địa phương  và cũng đã từng thay đổi các tên gọi khác nhau nhưng nhà trường vẫn trung thành với nhiệm vụ chính trị: chăm lo quản lí, tổ chức cuộc sống nội trú, tổ chức giảng dạy và học tập, rèn luyện cho các thế hệ LHS Lào và  học sinh Dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc  Việt Nam .  Cho dù trong những tháng năm gian khổ, vất vả  khi mà thầy và trò vừa phải lo sơ tán , vừa phải lo quản lí tổ chức dạy và học trước đây cũng như trong điều kiện cuộc sống nội trú có nhiều đổi mới hiện nay thì mái trường Hữu nghị này  luôn là nơi mà thầy và trò cùng ăn ở, sinh hoạt tập thể với những hoạt động đặc sắc riêng của trường Lào đã tự  nhiên gắn kết những cán bộ, giáo viên và học sinh – sinh viên của trường trở thành một khối đoàn kết thống nhất, biết gần gũi, cảm thông, sẻ chia và cùng nhau vượt qua muôn vàn khó khăn để có được  như  ngày hôm nay.

Nguyễn Văn Oánh- Bí thư  Đảng ủy, Hiệu trưởng

NHỮNG MỐC THỜI GIAN,  ĐỊA ĐIỂM NƠI TRƯỜNG ĐÓNG VÀ TÊN TRƯỜNG QUA CÁC THỜI KÌ

TT

THỜI GIAN

ĐỊA ĐIỂM TRƯỜNG ĐÓNG

TÊN TRƯỜNG

1

01/01/1958 Xã Cao Ngạn, huyện Đồng Hỷ , tỉnh Thái Nguyên

T 399

2

1959 – 1961 Cây số 5, đường Thái Nguyên – Bắc Cạn (Phân hiệu 1)

Khu học xá Miền núi Trung ương

3

1962 – 1964 Xã Kim Tràng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

Bổ túc Văn hóa Miền núi Trung ương

4

 1965-1966  Xã Vinh Quang và xã Phúc Hòa , huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

Bổ túc Văn hóa Miền núi Trung ương

5

1967 – 1969 * Xã Minh Đài và Văn Luông, huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú (Phân hiệu 1).*  Xã Thượng Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú (Phân hiệu 2).

Bổ túc Văn hóa Miền núi Trung ương

(T78)

6

1970 – 1975  Xã Phương Thịnh, Quang Húc và Hùng Đô, huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú  

Bổ túc Văn hóa Miền núi Trung ương

(T78)

7

1975 – 1978  Xã Phú Sơn, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình  

Bổ túc Văn hóa Miền núi Trung ương

(T78)

8

1978 – 1984  Xã Văn Sơn, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Sơn Bình  

Bổ túc Văn hóa Miền núi Trung ương

(T78)

9

1980 – Nay  Xã Thọ Lộc, huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội  * Bổ túc Văn hóa Hữu nghị – (T78)

* Hữu nghị T78 

Phản hồi:

  1. NONG DUC DAT viết:

    Em o thai nguyen, hoc het lop 11 roi nghi 1 nam. Cho em hoi bay gio em muon xin xuong t78 hoc bo tuc lop 12 duoc khong va thu tuc xin nhap hoc nhu the nao. E xin cam on

Phản hồi của bạn

*

TIN MỚI NHẤT

Quyết định phê duyệt phương án thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng từ năm 2015

Animated Social Media Icons Powered by Acurax Wordpress Development Company